Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố
CHÙA GIAO QUANG
Di tích cấp Thành phố năm 2010 · Tên chữ: Phúc Lâm Tự
Tọa lạc trên khu đất cao ráo giữa làng Giao Quang, chùa là không gian tu học, sinh hoạt Phật giáo trang nghiêm của người dân, đồng thời từng là cơ sở sơ tán và nuôi giấu vũ khí thời kỳ kháng chiến cứu nước.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHÙA GIAO QUANG (PHÚC LÂM TỰ)
TÒA TAM BẢO CHÍNH ĐIỆNKhông gian Phật điện Thượng điện uy nghiêm với các lớp tượng Phật sơn son thếp vàng lộng lẫy.NHÀ TỔ VÀ TƯỢNG ĐẠT MANhà Tổ phụng thờ Sư Tổ Bồ Đề Đạt Ma và chư vị Tổ sư dưới bức hoành phi Tông Phong Vĩnh Chấn.BAN THỜ TAM TÒA THÁNH MẪUBan thờ Tam tòa Thánh Mẫu sơn son thếp vàng rực rỡ kết hợp hài hòa tín ngưỡng tiền Phật hậu Mẫu.ĐỘNG SƠN TRANG MẪU THƯỢNG NGÀNĐộng non bộ đá Sơn Trang với nghệ thuật đắp nổi sặc sỡ phụng thờ Mẫu Thượng Ngàn.KHU VƯỜN THÁP MỘ SƯ CỔ KÍNHKhu vườn tháp mộ chư vị Tổ sư xây gạch giật cấp với mái đao cong mềm mại giữa khuôn viên thanh tịnh.
Chùa Giao Quang, tên chữ là Phúc Lâm tự (nghĩa là 'chùa mang lại sự phúc lành như rừng lớn'), là ngôi chùa cổ kính tọa lạc tại trung tâm không gian cư trú truyền thống của làng Giao Quang xưa, nay thuộc Tổ dân phố Quang Tiến, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội. Ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa tinh thần đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với cộng đồng dân cư địa phương.
Trong cùng khuôn viên di tích, Chùa Giao Quang thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa tín ngưỡng thờ Phật Bắc tông, tín ngưỡng thờ Tổ (chư vị Tổ sư đã viên tịch) và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ / Tứ phủ, phản ánh nét đặc trưng sâu sắc trong đời sống tâm linh của người Việt đồng bằng Bắc Bộ.
Bên cạnh giá trị tôn giáo, Chùa Giao Quang còn là một 'địa chỉ đỏ' cách mạng kiên trung: cơ sở bí mật nuôi giấu cán bộ kháng chiến chống Pháp, đồng thời là địa điểm sơ tán, đào tạo an toàn của Trường Trung cấp Y Hà Nội và Trường Quân Y thuộc Bộ Tư lệnh Đặc công 305 trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt.
Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, ngày 15/3/2010, UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 1182/QĐ-UBND chính thức xếp hạng Chùa Giao Quang là Di tích Lịch sử - Kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố.
Tên di tích
Chùa Giao Quang (Tên chữ: Phúc Lâm tự - 福林寺)
Địa chỉ hiện nay
Tổ dân phố Quang Tiến, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội
Loại hình di tích
Di tích Lịch sử - Kiến trúc nghệ thuật; Công trình tôn giáo tín ngưỡng
Đối tượng thờ tự
Đức Phật, Chư vị Tổ sư, Tam tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Ngàn và Đức Thánh Trần
Xếp hạng di tích
Di tích cấp Thành phố (Quyết định số 1182/QĐ-UBND ngày 15/3/2010)
Đơn vị quản lý
UBND phường Tây Mỗ & Tiểu ban Quản lý di tích Tổ dân phố Quang Tiến
Khởi dựng
Thời Nguyễn (trước năm 1838, căn cứ bia Hậu Phật bi ký)
Dấu ấn đặc biệt
Cơ sở nuôi giấu cách mạng và địa điểm sơ tán Quân Y Đặc công 305
Chùa Giao Quang được khởi dựng từ khá sớm trong quy hoạch tổng thể về kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng làng xã truyền thống vùng Mỗ. Căn cứ vào hệ thống di vật hiện bảo tồn tại di tích — tiêu biểu là tấm bia đá 'Hậu Phật bi ký' lập năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), chuông đồng cổ 'Phúc Lâm tự chung' đúc năm Thành Thái thứ 14 (1902) và 22 pho tượng tròn mang phong cách điêu khắc thế kỷ XIX — các nhà khoa học xác định ngôi chùa được khởi dựng muộn nhất là vào thời Nguyễn, trước năm 1838.
Trong quá trình tồn tại, di tích đã trải qua nhiều đợt tu bổ lớn nhờ sự cúng tiến công đức của cộng đồng: Năm 1915 (Ất Mão), sau trận vỡ đê Liên Mạc làm ngập vùng Mỗ, dân làng đã quyên góp tôn tạo lại tòa Tam bảo; năm 1918 tu sửa chùa đồng thời với đợt đại trùng tu Đình Giao Quang; năm 1928 (Bảo Đại thứ 3) đại trùng tu tòa Tiền đường, dấu mốc ghi khắc rõ trên câu thượng lương: 'Bảo Đại tam niên'; năm 1930 (Bảo Đại thứ 5) trùng tu tổng thể quy mô lớn, khắc ghi trên văn bia 'Công đức bi ký' ca ngợi chùa là chốn danh lam thắng cảnh tươi đẹp.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954), chùa là cơ sở bí mật nuôi giấu cán bộ vùng Liên Bắc, cất giấu vũ khí và là nơi tập hợp lực lượng dân quân du kích thôn Giao Quang phối hợp chiến đấu tiêu diệt giặc tại bốt Mỗ, bốt Ngọc Trục và bốt Trung Văn.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chùa là nơi tiếp nhận, che chở cho Trường Trung cấp Y Hà Nội sơ tán và đào tạo 2 khóa học (1966–1972). Đặc biệt từ năm 1970 đến 1985, Trường Quân Y thuộc Bộ Tư lệnh Đặc công 305 đã chọn chùa làm căn cứ sơ tán, huấn luyện cán bộ y tế phục vụ chiến trường.
Thời kỳ đổi mới, năm 1992 chùa xây dựng cổng và tường bao; năm 2004 xây dựng Nhà Mẫu riêng biệt; ngày 15/3/2010 được UBND Thành phố Hà Nội xếp hạng Di tích Lịch sử - Kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố.
DÒNG THỜI GIAN DI TÍCH
Trước năm 1838Chùa Giao Quang được khởi dựng thời Nguyễn (căn cứ theo tấm bia đá Hậu Phật bi ký lập năm 1838).
1838 (Minh Mệnh 19)Dựng tấm bia đá 'Hậu Phật bi ký' ghi nhận việc gửi hậu Phật và công đức tu bổ Tam bảo.
1902 (Thành Thái 14)Đúc đại hồng chung 'Phúc Lâm tự chung' lưu giữ bài minh văn ca ngợi cảnh thiền môn thanh tịnh.
1915 (Ất Mão)Trận vỡ đê Liên Mạc ngập tràn vùng Mỗ; dân làng hăng hái quyên góp tôn tạo lại tòa Tam bảo sau lũ.
1918 (Mậu Ngọ)Nhân dân địa phương tiến hành tu sửa chùa đồng thời với đợt đại trùng tu ngôi Đình Giao Quang.
1928 (Bảo Đại 3)Đại trùng tu tòa Tiền đường, dấu mốc ghi khắc rõ trên câu thượng lương: 'Bảo Đại tam niên'.
1930 (Bảo Đại 5)Trùng tu lớn quy mô tổng thể, dựng văn bia 'Công đức bi ký' ca ngợi cảnh thiền môn danh lam tươi đẹp.
1945 – 1954Cơ sở bí mật nuôi giấu cán bộ Liên Bắc, cất giấu vũ khí của lực lượng du kích trong kháng chiến chống Pháp.
1966 – 1985Địa điểm sơ tán, đào tạo của Trường Trung cấp Y Hà Nội và Trường Quân Y thuộc Bộ Tư lệnh Đặc công 305.
1992 & 2004Xây dựng cổng chùa và hệ thống tường bao (1992); xây dựng Nhà Mẫu riêng biệt (2004).
15/03/2010UBND Thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 1182/QĐ-UBND xếp hạng Di tích Lịch sử - Kiến trúc nghệ thuật.
Hiện nayĐược số hóa toàn bộ tư liệu di sản, đưa vào hệ thống mã QR Code tra cứu thông tin phục vụ nhân dân.
Chùa Giao Quang hội tụ trọn vẹn giá trị lịch sử cách mạng hào hùng, giá trị văn hóa tín ngưỡng tiền Phật hậu Mẫu bao dung và giá trị kiến trúc điêu khắc cổ truyền độc đáo.
Giá trị Lịch sử và Cách mạng Kháng chiến
Sự tồn tại của Chùa Giao Quang cùng với Đình Giao Quang và Miếu Hàm Rồng đã tạo nên bộ khung thiết chế văn hóa - tâm linh hoàn chỉnh của làng Kẻ Quánh cổ truyền.
Dấu ấn cách mạng trong hai cuộc kháng chiến — nơi nuôi giấu cán bộ Liên Bắc, cất giấu vũ khí và cơ sở sơ tán của Trường Quân Y Bộ Tư lệnh Đặc công 305 — khẳng định ngôi chùa là một 'địa chỉ đỏ' kiên trung trong lòng Thủ đô.
Câu thượng lương niên hiệu Bảo Đại cùng các chứng tích lịch sử gắn bó với hai cuộc kháng chiến.
Giá trị Văn hóa và Tín ngưỡng dân gian
Chùa là nơi duy trì nếp sống đạo lý 'Uống nước nhớ nguồn', hướng thiện cho bao thế hệ cư dân địa phương. Sự phối thờ hòa quyện giữa Phật giáo Bắc tông, tín ngưỡng thờ Tổ và tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện sức sống bền bỉ và bản sắc tâm linh làng quê đồng bằng Bắc Bộ.
Không gian thờ Mẫu kết hợp hài hòa với Phật điện phản ánh tính bao dung của văn hóa dân gian Việt Nam.
Giá trị Kiến trúc Nghệ thuật cổ truyền
Chùa bảo tồn mặt bằng kiến trúc chuôi vồ (chữ Đinh) truyền thống với kết cấu khung gỗ bào trơn đóng bén tinh tế, hệ vì 'giá chiêng - chồng rường' vững chắc, cùng cảnh quan sân vườn, ao chùa và vườn tháp mộ hài hòa, tĩnh tại giữa lòng khu dân cư.
Nghệ thuật chạm khắc gỗ sơn son thếp vàng đỉnh cao trên hệ thống cửa võng và vì kèo.
Kho tàng Di vật và Cổ vật vô giá
Chùa lưu giữ bộ sưu tập di vật phong phú về chất liệu: 22 pho tượng Phật tròn sơn son thếp vàng thế kỷ XIX–XX, tấm bia đá 'Hậu Phật bi ký' lập năm Minh Mệnh 19 (1838), bia 'Công đức bi ký' năm 1930, đại hồng chung 'Phúc Lâm tự chung' đúc năm Thành Thái 14 (1902), cùng các bức hoành phi, câu đối và cửa võng chạm thủng nghệ thuật.
Văn bia Hậu Phật bi ký năm 1838 thời Minh Mệnh khẳng định niên đại khởi dựng của ngôi chùa.
Hệ thống thờ tự tại Chùa Giao Quang được bài trí tôn nghiêm theo chuẩn mực chùa làng Bắc Bộ theo mô hình 'Tiền Phật hậu Mẫu', bao gồm 3 không gian thờ tự chính: Tòa Phật điện Tam Bảo, Nhà Tổ và Nhà Mẫu.
Tòa Phật điện Tam Bảo (Thượng điện và Tiền đường)
Thượng điện là nơi tôn nghiêm nhất với hệ thống tượng Phật xếp đặt theo các hàng bậc từ cao xuống thấp: Hàng thứ nhất: 3 pho Tam Thế Phật biểu trưng cho sự tồn tại vĩnh hằng của Phật pháp trên trục thời gian Quá khứ - Hiện tại - Vị lai. Hàng thứ hai: Bộ Di Đà Tam Tôn gồm Đức Phật A Di Đà ngồi thiền định ở chính giữa, Bồ tát Quan Thế Âm (cứu khổ) bên trái và Bồ tát Đại Thế Chí (trí tuệ) bên phải. Hàng thứ ba: Bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh. Hàng thứ tư: Bộ tượng Tứ Bồ Tát, Ca Diếp, A Nan và Ngọc Hoàng Đại Đế. Hàng thứ năm: Tòa Cửu Long - Thích Ca sơ sinh trong vòng quấn của 9 con rồng, hai bên có Nam Tào, Bắc Đẩu, Phạm Thiên và Đế Thích.
Tại gian Tiền đường: Bên trái đặt ban thờ Đức Ông (Cấp Cô Độc) cùng tượng Già Lam và Chân Tể; bên phải đặt ban thờ Đức Thánh Tăng (A Nan Đà) cùng tượng Diện Nhiên Đại Sĩ.
Hệ thống tượng Phật được xếp đặt thành các hàng bậc trang nghiêm từ cao xuống thấp.
Nhà Tổ — Phụng thờ Chư vị Tổ sư
Nhà Tổ gồm 3 gian 2 dĩ nằm liền kề bên trái tòa Tiền đường. Gian giữa tôn trí tượng Sư Tổ Bồ Đề Đạt Ma trong tư thế thiền định dưới bức đại tự 'Tông Phong Vĩnh Chấn' và 'Lịch Đại Tổ Sư'.
Hai bên phụng thờ chư vị Tổ sư đã từng trụ trì tại chùa và viên tịch, thể hiện đạo lý 'Tôn sư trọng đạo' và truyền thống tiếp nối ngọn đèn trí tuệ của Phật giáo truyền thống.
Tượng Bồ Đề Đạt Ma và bài vị chư vị Tổ sư từng trụ trì tại chùa qua các thời kỳ.
Nhà Mẫu — Tam tòa Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần
Nhà Mẫu được xây dựng riêng biệt phía bên trái sân chùa. Chính giữa đặt khám thờ Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ) cùng các vị Quan Hoàng, Tứ vị Chầu Bà, Cô Cậu sơn son thếp vàng rực rỡ.
Bên trái đặt động Sơn Trang non bộ bằng đá thờ Mẫu Thượng Ngàn; bên phải đặt ban thờ phụng Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn), phản ánh trọn vẹn tín ngưỡng dân gian của người Việt.
Ban thờ Tam tòa Thánh Mẫu sơn son thếp vàng dưới bức hoành phi Mẫu Nghi Thiên Hạ.
Chùa Giao Quang tọa lạc trên gò đất cao ráo, rộng rãi, thoáng mát giữa lòng khu dân cư TDP Quang Tiến. Bố cục tổng thể bao gồm: Cổng chùa, Sân trước, Ao chùa, Khu tháp mộ sư, Chùa chính (chữ Đinh), Nhà Tổ và Nhà Mẫu.
Cổng chùa và Bờ nóc mái đắp cuốn thư Phúc Lâm tự
Cổng chùa xây gạch nối liền hệ thống tường bao quanh khuôn viên. Phía trên cổng đắp bức cuốn thư đề 3 chữ Hán 'Phúc Lâm tự' (福林寺), đỉnh đắp mặt hổ phù và trụ biểu búp sen thanh thoát. Hai bên cổng bổ khung đắp câu đối Hán Nôm răn dạy điều thiện.
Bờ nóc mái ngói ta của tòa Tiền đường đắp nổi đề tài 'Lưỡng long chầu nguyệt' cùng bức cuốn thư tên chữ của chùa, tạo điểm nhấn mỹ thuật cổ kính trên nền trời xanh.
Bức cuốn thư đắp nổi ba chữ Hán 'Phúc Lâm tự' trên bờ nóc mái cổ truyền.
Chùa chính kiến trúc chữ Đinh (chuôi vồ)
Tòa Tiền đường gồm 3 gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta truyền thống. Phía trước hai hồi xây trụ biểu lồng đèn đỉnh đắp trái giành.
Tòa Thượng điện nối liền vuông góc với gian giữa Tiền đường ăn sâu về phía sau tạo thành mặt bằng chữ Đinh (chuôi vồ). Xung quanh xây tường gạch kín che chắn gió mưa, bên trong tôn nền bệ gạch nhiều bậc từ cao xuống thấp làm nơi ngự cho Phật điện.
Tòa Tiền đường nối liền vuông góc với Thượng điện tạo thành mặt bằng chữ Đinh.
Hệ khung gỗ vì kèo và câu thượng lương thời Nguyễn
Bộ khung chịu lực liên kết bởi 4 bộ vì: 2 vì hồi làm kiểu 'kèo cầu quá giang', 2 vì giữa làm kiểu 'giá chiêng - chồng rường', tất cả các cấu kiện được bào trơn, bào soi đóng bén mạch lạc và liên kết mộng khít khao.
Trên câu thượng lương gian giữa còn khắc dòng chữ Hán ghi dấu đợt đại trùng tu tòa Tiền đường: 'Bảo Đại tam niên thập nguyệt' (1928), là cứ liệu vật chất xác thực khẳng định quá trình trùng hưng của ngôi chùa.
Hệ vì kèo giá chiêng chồng rường chắc khỏe và câu thượng lương niên hiệu Bảo Đại (1928).
Khu vực Nhà Tổ và Nhà Mẫu truyền thống
Nhà Tổ gồm 3 gian 2 dĩ nằm liền kề bên trái tòa Tiền đường, kết cấu vì kèo quá giang, nền tôn cao so với mặt sân, hiên hẹp chạy suốt mặt trước che chở cho không gian phụng tự.
Nhà Mẫu được quy hoạch xây dựng bên trái sân trước Tam bảo, tạo nên tổng thể không gian phụng thờ hoàn chỉnh theo đúng chuẩn mực chùa làng truyền thống.
Nhà Tổ và Nhà Mẫu 3 gian 2 dĩ khang trang nằm trong khuôn viên di tích.
Khu vườn tháp mộ chư vị Tổ sư
Nằm tĩnh mịch trong khuôn viên rợp bóng mát là khu vườn tháp mộ chư vị Tổ sư. Các tòa tháp vuông xây bằng gạch nung cổ giật cấp 2 đến 3 tầng, đỉnh đắp hình búp sen thanh thoát, bốn góc mái tạo dáng đao cong mềm mại.
Bốn mặt tháp đắp nổi chữ Phạn trang nghiêm, là nơi lưu giữ xá lợi và tro cốt của các bậc cao tăng từng trụ trì, viên tịch tại chùa qua nhiều thế hệ.
Khu vườn tháp mộ cổ kính xây gạch giật cấp với mái đao cong mềm mại và đỉnh đắp búp sen.
TƯ LIỆU HÌNH ẢNH
Bộ sưu tập hình ảnh kiến trúc di tích
Nhấp chọn ảnh để xem kích thước lớn kèm chú thích khảo sát chi tiết.
Dù trải qua tác động của thiên tai vỡ đê Liên Mạc năm 1915 và chiến tranh, Chùa Giao Quang vẫn bảo tồn được bộ sưu tập hiện vật quý giá khẳng định bề dày lịch sử hàng trăm năm.
HỆ THỐNG 22 PHO TƯỢNG PHẬT CỔ (TK XIX - XX)
Bộ sưu tập 22 pho tượng Phật, tượng Tổ và tượng Mẫu điêu khắc gỗ cổ thời Nguyễn. Tiêu biểu như pho tượng A Di Đà thế kỷ XIX ngồi kiết già trên tòa sen 3 lớp cánh sơn son, khuôn mặt từ bi, tóc bụt ốc, hai tay kết ấn Tam Muội; Tòa Cửu Long thế kỷ XX chạm khắc 9 con rồng quấn vờn bao quanh tượng Thích Ca sơ sinh.
BIA ĐÁ 'HẬU PHẬT BI KÝ' (MINH MỆNH 19 - 1838)
Tấm bia đá xanh nguyên khối dựng năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), trán bia chạm hoa văn rồng chầu mặt trời, lòng bia khắc chữ Hán sắc nét ghi nhận việc cúng tiến tiền của gửi hậu Phật vào chùa. Đây là căn cứ vật chất xác thực khẳng định chùa có niên đại khởi dựng ít nhất từ trước năm 1838.
CHUÔNG ĐỒNG 'PHÚC LÂM TỰ CHUNG' (THÀNH THÁI 14 - 1902)
Đại hồng chung bằng đồng cổ mang tên 'Phúc Lâm tự chung' (福林寺鐘) đúc vào năm Thành Thái thứ 14 (1902) do phật tử và nhân dân trong làng hưng công đúc tạo. Quai chuông đúc hình đôi rồng đấu lưng uốn khúc, thân chuông chia 4 múi khắc bài minh văn chữ Hán ca ngợi cảnh chùa thanh tịnh và âm vang chuông sớm thức tỉnh lòng người.
HOÀNH PHI CỔ 'MẪU NGHI THIÊN HẠ'
Bức đại tự hoành phi bằng gỗ quý sơn son thếp vàng rực rỡ mang bốn chữ Hán lớn 'Mẫu Nghi Thiên Hạ' (母儀天下) treo trang nghiêm phía trước khám thờ Tam tòa Thánh Mẫu, ca ngợi công đức chở che muôn dân của Thánh Mẫu.
HOÀNH PHI CỔ 'LỊCH ĐẠI TỔ SƯ'
Bức hoành phi gỗ sơn son thếp vàng mang bốn chữ Hán 'Lịch Đại Tổ Sư' (歷代祖師) treo trên gian giữa Nhà Tổ, ngợi ca công hạnh truyền thừa chánh pháp của chư vị Tổ sư qua các thời kỳ.
HOÀNH PHI CỔ 'TÔNG PHONG VĨNH CHẤN'
Bức hoành phi bốn chữ 'Tông Phong Vĩnh Chấn' (宗風永振) treo ngay dưới hoành phi Lịch Đại Tổ Sư, khẳng định nếp đạo phong thiền môn luôn được giữ gìn hưng thịnh vững bền muôn đời.
HOÀNH PHI CỔ 'TỔ ẤN TRÙNG QUANG'
Đại tự hoành phi bốn chữ 'Tổ Ấn Trùng Quang' (祖印重光) chạm khắc chữ Hán chân phương thếp vàng lộng lẫy, ngợi ca ánh sáng tâm ấn của chư vị Tổ sư mãi rạng rỡ chốn già lam.
BIỂN TRANG NGHIÊM VÀ BỘ BÁT BỬU THẾP VÀNG
Đôi biển thờ chạm khắc đề tài rồng phượng uốn lượn mang chữ 'Trang Nghiêm' (莊嚴) sơn son thếp vàng rực rỡ cùng dàn binh khí Bát bửu, biểu trưng cho sự thanh tịnh và uy nghiêm tối cao nơi cửa thiền.
ĐỘNG ĐÁ SƠN TRANG VÀ TƯỢNG MẪU THƯỢNG NGÀN
Tác phẩm điêu khắc đắp nổi động đá non bộ kỳ vĩ đặt tại cánh tả Nhà Mẫu, tái hiện cảnh núi rừng sơn cước nơi Mẫu Thượng Ngàn ngự trị cùng thập nhị Tiên Cô trong trang phục chàm sặc sỡ.
HỆ THỐNG THÁP MỘ SƯ GẠCH NUNG ĐẮP CHỮ PHẠN
Các tòa tháp mộ sư xây gạch nung cổ giật cấp 2 đến 3 tầng, mái tạo đao cong, đỉnh đắp búp sen, bốn mặt đắp nổi hoa văn chữ Phạn trang nghiêm, là chứng tích lịch sử lâu đời của di tích.
CÂU THƯỢNG LƯƠNG 'BẢO ĐẠI TAM NIÊN' (1928)
Dòng chữ Hán 'Bảo Đại tam niên thập nguyệt' (1928) khắc trên câu thượng lương gian giữa tòa Tiền đường, ghi nhận dấu mốc đại trùng tu kiến trúc chùa vào đầu thế kỷ XX.
Khám phá thêm tư liệu và mô phỏng hiện vật
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
HỆ THỐNG 22 PHO TƯỢNG PHẬT CỔ (TK XIX - XX)
Bộ sưu tập 22 pho tượng Phật, tượng Tổ và tượng Mẫu điêu khắc gỗ cổ thời Nguyễn. Tiêu biểu như pho tượng A Di Đà thế kỷ XIX ngồi kiết già trên tòa sen 3 lớp cánh sơn son, khuôn mặt từ bi, tóc bụt ốc, hai tay kết ấn Tam Muội; Tòa Cửu Long thế kỷ XX chạm khắc 9 con rồng quấn vờn bao quanh tượng Thích Ca sơ sinh.
Chùa Giao Quang là trung tâm thực hành Phật giáo của nhân dân địa phương. Hằng năm, nhà chùa tổ chức trang trọng các ngày đại lễ theo Phật lịch, đón đông đảo tăng ni, phật tử và du khách thập phương về chiêm bái, tu học.
Ngày 15 tháng Giêng: Lễ Thượng nguyên (Pháp bảo) cầu quốc thái dân an, mùa màng bội thu.
Ngày 8 tháng Hai: Lễ Vía Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia.
Ngày 15 tháng Hai: Lễ Vía Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn.
Ngày 15 tháng Tư: Đại lễ Phật đản (Khánh đản Đức Phật Thích Ca) mừng ngày đản sinh của Đức Từ Phụ.
Ngày 15 tháng Bảy: Đại lễ Vu Lan báo hiếu và Xá tội vong nhân, giáo dục truyền thống hiếu đạo của dân tộc.
Ngày 19 tháng Chín: Lễ Vía Đức Quan Thế Âm Bồ tát xuất gia phát nguyện cứu khổ muôn loài.
Ngày 17 tháng Mười một: Lễ Khánh đản Đức Phật A Di Đà hướng thiện chúng sinh về cõi Tây phương Cực Lạc.
Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội bồ đề.
Tuần tiết sóc vọng: Đều đặn vào các ngày mùng Một, ngày Rằm hằng tháng và dịp Lễ cầu an đầu xuân dâng sao giải hạn.
Ý NGHĨA TÊN CHỮ PHÚC LÂM TỰ: Chùa Giao Quang có tên chữ là Phúc Lâm tự (福林寺), mang ý nghĩa sâu sắc là ngôi chùa đem lại sự phúc lành, che chở rộng lớn như rừng cây trù phú cho dân làng.
KÝ ỨC TRẬN VỠ ĐÊ LIÊN MẠC NĂM 1915: Trận vỡ đê Liên Mạc lịch sử năm 1915 đã làm chùa bị hư hại và cuốn trôi một số pho tượng, sau đó dân làng đã đồng lòng quyên góp công đức tu sửa tôn tạo lại toàn bộ tòa Tam bảo.
ĐỊA CHỈ ĐỎ QUÂN Y ĐẶC CÔNG 305: Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chùa từng là nơi sơ tán đào tạo an toàn của Trường Trung cấp Y Hà Nội (1966–1972) và Trường Quân Y thuộc Bộ Tư lệnh Đặc công 305 (1970–1985).
CỔ VẬT TRĂM NĂM THỜI NGUYỄN: Chùa bảo tồn nguyên vẹn quả chuông đồng cổ 'Phúc Lâm tự chung' đúc năm 1902 và tấm bia đá 'Hậu Phật bi ký' lập năm 1838 thời vua Minh Mệnh ghi chép sự kiện khởi dựng di tích.
THƯ VIỆN SỐ VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN
Nhằm hưởng ứng chương trình chuyển đổi số di sản văn hóa của UBND phường Tây Mỗ, Chùa Giao Quang đã xây dựng Thư viện số hóa bao gồm: Hồ sơ khoa học xếp hạng di tích cấp Thành phố năm 2010 và Lý lịch di tích do Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội lập; Kho ảnh chất lượng cao toàn bộ quy hoạch mặt bằng, kiến trúc Tiền đường, Thượng điện, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, tháp mộ và cổ vật; Dữ liệu số hóa phiên âm, dịch nghĩa 3 tấm bia đá, bài minh chuông đồng Thành Thái 14 và hoành phi câu đối Hán Nôm; Hệ thống mã QR Code tra cứu thông tin tự động gắn tại cổng chùa. Công tác bảo tồn khung gỗ, kiểm kê di vật và PCCC được triển khai thường xuyên.
THÔNG TIN THAM QUAN
Địa điểm & Thời gian
Địa chỉ: Chùa Giao Quang (Phúc Lâm tự), Tổ dân phố Quang Tiến, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội
Thời gian lễ hội: Mở cửa đón phật tử và du khách thập phương hằng ngày (từ 07h00 đến 18h00). Đón tiếp đông đảo nhân dân vào các ngày Rằm, mùng Một và các ngày lễ lớn theo Phật lịch
Hướng dẫn tham quan
Quý khách vui lòng mặc trang phục lịch sự, kín đáo, tháo mũ nón trước khi vào bái đường.
Giữ gìn không gian yên tĩnh, không gây ồn ào làm ảnh hưởng đến chốn thanh tịnh thiền môn.
Không tự ý sờ hiện vật, không chạm tay vào các pho tượng cổ, bia đá và đồ thờ tự quý.
Thực hiện nghiêm túc quy định phòng cháy chữa cháy khi thắp hương, dâng hoa quả giọt dầu.
Khám phá số & Quản lý
Quét mã QR Code đặt tại cổng chùa để tra cứu thông tin tư liệu số hóa di tích tự động trên điện thoại.
Đơn vị quản lý: Tiểu ban Quản lý di tích Tổ dân phố Quang Tiến & UBND phường Tây Mỗ