Di tích Lịch sử cấp Quốc gia năm 1990 · Thờ Thám hoa Nguyễn Quý Đức
Mang kiến trúc chữ Quốc (國) 3 gian 4 mái độc đáo trên gò Đống Biện, Lạc Thọ Đình lưu dấu cuộc đời bậc Tể tướng đức độ "Thiên hạ hữu tức", bảo tồn đôi tượng ngựa đá, sấu đá cùng hoành phi cổ thế kỷ XVIII.
GIỚI THIỆU CHUNG
TOÀN CẢNH LẠC THỌ ĐÌNH TRÊN GÒ ĐỐNG BIỆNNếp nhà vuông 3 gian 4 mái uy nghi tọa lạc trên đỉnh gò Đống Biện rợp bóng cây cổ thụ.CỔNG VÒM CỔ KÍNH LẠC THỌ ĐÌNHCổng vào di tích mang kiến trúc cuốn vòm cổ kính đắp nổi ba chữ Hán 'Lạc Thọ Đình'.TIỀN ĐÌNH VÀ BẬC THỀM ĐÁ TẢNG DẪN LỐIBậc thềm đá tảng mài nhẵn dẫn lên nếp nhà vuông vắn mang bố cục chữ Quốc độc đáo.GIAN THỜ CHÍNH ĐIỆN TÔN NGHIÊMKhông gian thờ phụng trang nghiêm với đôi long ngai bài vị Thám hoa và phu nhân.ĐAO MÁI CONG VÚT CHẠM TRỔ NGHỆ THUẬTĐao mái cong vút lợp ngói mũi hài thanh thoát vươn lên giữa vòm cây xanh.
Miếu Lạc Thọ Đình tọa lạc trên gò đất cao Đống Biện tại Tổ dân phố Phú Thứ, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội. Đây là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia lưu niệm danh nhân Thám hoa Nguyễn Quý Đức - bậc hiền tài xuất chúng của dòng họ Nguyễn Quý và là vị Tể tướng thanh liêm, đức độ lừng danh thời Lê Trung Hưng.
Công trình được khởi công xây dựng vào năm Kỷ Sửu (1709) và khánh thành vào năm Tân Mão (1711). Đặc biệt, chính Thám hoa Nguyễn Quý Đức đã tự tay thiết kế và chỉ đạo xây dựng ngôi đình làm nơi trí sĩ, dưỡng lão sau nhiều thập kỷ tận tụy gánh vác việc triều chính và chăm lo cho đời sống muôn dân.
Lạc Thọ Đình mang phong cách kiến trúc chữ Quốc (國) vuông vắn độc đáo với nếp nhà 3 gian 4 mái lợp ngói mũi hài cổ kính, bộ khung gỗ lim 6 cột vững chãi kê trên các tảng đá xanh nguyên khối. Nơi đây hiện bảo tồn kho tàng di vật quý giá gồm đôi long ngai bài vị cổ, đại tự hoành phi, bức chép thi họa ngự chế của Chúa Trịnh Cương năm 1719, cùng đôi tượng ngựa đá và sấu đá thế kỷ XVIII.
Ghi nhận những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật đặc biệt xuất sắc gắn liền với thân thế danh nhân lỗi lạc của dân tộc, Miếu Lạc Thọ Đình đã được Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức xếp hạng Di tích Lịch sử cấp Quốc gia vào năm 1990.
Tên di tích
Miếu Lạc Thọ Đình
Địa chỉ
Gò Đống Biện, Tổ dân phố Phú Thứ, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
Loại hình
Di tích lịch sử cấp Quốc gia (Di tích lưu niệm danh nhân)
Xếp hạng
Di tích Lịch sử cấp Quốc gia (Quyết định năm 1990 của Bộ Văn hóa - Thông tin)
Khởi dựng
Khởi công 1709, khánh thành 1711 (Thám hoa Nguyễn Quý Đức tự thiết kế)
Đối tượng thờ
Thám hoa Nguyễn Quý Đức và phu nhân Công Thị Giảng
Đơn vị quản lý
UBND phường Tây Mỗ, Tiểu ban Quản lý di tích và Dòng họ Nguyễn Quý
Miếu Lạc Thọ Đình gắn liền mật thiết với cuộc đời và tư tưởng thanh cao của Thám hoa Nguyễn Quý Đức (1648 - 1720) - vị danh thần đứng đầu triều chính thời Lê - Trịnh. Năm 1708, sau nhiều năm cống hiến trọn vẹn tài năng và tâm huyết cho đất nước, ông xin cáo lão về quê. Từ năm 1709 đến 1711, ông đã chọn gò đất cao Đống Biện phong thủy tú khí bên dòng Tùng Khê để tự tay thiết kế và tạo dựng Lạc Thọ Đình làm nơi ngâm vịnh, đàm đạo thi phú và an hưởng cảnh điền viên.
Vào năm Kỷ Hợi (1719), một sự kiện lịch sử đặc biệt hiếm có đã diễn ra khi Chúa An Đô Vương Trịnh Cương thân hành ngự giá ghé thăm Lạc Thọ Đình để bái kiến bậc lão thần đức cao vọng trọng. Tại đây, Chúa Trịnh Cương và Thám hoa Nguyễn Quý Đức đã cùng xướng họa thơ phú, ngợi ca cảnh sắc thanh bình và đạo trị quốc an dân, để lại thi phẩm ngự chế vô giá được lưu truyền đến ngày nay.
Sau khi Thám hoa Nguyễn Quý Đức tạ thế vào ngày 14 tháng 5 năm Canh Tý (1720), con cháu dòng họ Nguyễn Quý cùng nhân dân địa phương đã tôn tạo ngôi đình thành miếu thờ phụng ông và phu nhân Công Thị Giảng. Đến tháng Hai năm Đinh Hợi (1827 - niên hiệu Minh Mệnh thứ 8), dòng họ dựng tấm văn bia 'Công vị Đệ tam thế đại vương sự tích ký' ghi chép công đức lưu truyền muôn đời.
Trải qua hơn ba thế kỷ biến thiên lịch sử, Miếu Lạc Thọ Đình vẫn sừng sững tọa lạc trên đỉnh gò Đống Biện rợp bóng cây cổ thụ. Năm 1990, di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận và xếp hạng Di tích Lịch sử cấp Quốc gia, trở thành niềm tự hào bất diệt của vùng đất văn vật Tây Mỗ - Đại Mỗ.
DÒNG THỜI GIAN DI TÍCH
1648Nguyễn Quý Đức sinh ra tại làng Đại Mỗ, nổi tiếng kỳ đồng thông minh xuất chúng.
1676Đỗ Thám hoa khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ, mở đầu sự nghiệp làm quan hiển hách triều Lê.
1709 - 1711Thám hoa Nguyễn Quý Đức tự tay thiết kế và chỉ đạo xây dựng Lạc Thọ Đình trên gò Đống Biện làm nơi trí sĩ dưỡng lão.
1719Chúa An Đô Vương Trịnh Cương ngự giá ghé thăm Lạc Thọ Đình, cùng Thám hoa làm thơ xướng họa ngự chế và ban thưởng.
1720Thám hoa Nguyễn Quý Đức tạ thế vào ngày 14/5 âm lịch; dòng họ và nhân dân địa phương tôn tạo đình thành miếu phụng thờ.
1827Dòng họ Nguyễn Quý dựng văn bia đá 'Công vị Đệ tam thế đại vương sự tích ký' ghi chép công đức danh nhân.
1990Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức xếp hạng Miếu Lạc Thọ Đình là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia.
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - LƯU NIỆM DANH NHÂN VÀ DẤU ẤN VƯƠNG TRIỀU
Di tích ghi dấu cuộc đời bậc Tể tướng đức độ 'Thiên hạ hữu tức' và sự kiện Chúa Trịnh Cương ngự giá ghé thăm năm 1719.
Nơi lưu niệm Thám hoa Tể tướng đức độ 'Thiên hạ hữu tức'
Nguyễn Quý Đức là bậc danh thần văn võ toàn tài, thanh liêm mẫu mực, được người đương thời xưng tụng qua phương ngôn bất hủ: 'Tể tướng Quý Đức, thiên hạ hữu tức' (Tể tướng Quý Đức ở ngôi, muôn dân được an cư nghỉ ngơi).
Lạc Thọ Đình là công trình duy nhất do chính tay ông thiết kế và chỉ đạo xây dựng lúc tuổi già, thể hiện trọn vẹn nhân cách thanh cao, tư tưởng yêu nước thương dân sâu sắc của vị đại thần triều Lê.
Dấu ấn lịch sử sự kiện Chúa Trịnh Cương ngự giá viếng thăm năm 1719
Việc người đứng đầu triều chính là Chúa An Đô Vương Trịnh Cương thân hành xa giá về tận làng quê thăm viếng và làm thơ xướng họa tại Lạc Thọ Đình là sự kiện hiếm thấy trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Bức chấn chỉ lộng kính chép bài thơ ngự chế và đôi câu đối xướng họa năm 1719 hiện vẫn được bảo tồn trân trọng trong miếu, là minh chứng lịch sử vô giá về sự tri ngộ giữa đấng quân vương và bậc hiền tài.
GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT CHỮ QUỐC (國) ĐỘC ĐÁO
Mặt bằng hình vuông chữ Quốc hiếm thấy, nếp nhà 3 gian 4 mái lợp ngói mũi hài trên gò Đống Biện cao ráo.
Mặt bằng hình vuông chữ Quốc (國) và thế đất gò Đống Biện
Miếu tọa lạc trên đỉnh gò đất Đống Biện cao ráo, tạo thế phong thủy tụ khí nhìn ra dòng sông Tùng Khê uốn khúc. Mặt bằng hình vuông 8m x 8m kiểu chữ Quốc với 3 gian 4 mái lợp ngói mũi hài thanh thoát tạo vẻ trang nghiêm, tĩnh lặng.
Nền miếu được tôn cao 0,75m so với mặt bằng sân gò, dẫn lối bằng bậc tam cấp đá tảng mài nhẵn, phía trước có sân rộng và hệ thống bậc thềm đá dẫn từ chân gò lên đỉnh miếu.
Bộ khung chịu lực gỗ lim 6 cột kê chân tảng đá xanh vững chãi
Toàn bộ khung kết cấu của ngôi miếu được làm bằng gỗ lim bền chắc gồm 6 cột chính chu vi lớn kê trên các chân tảng đá xanh nguyên khối đẽo gọt tỉ mỉ.
Các cấu kiện chịu lực như xà nách, câu đầu, kẻ bẩy, hoành rui được liên kết mộng gỗ khít khao, giúp công trình chống chọi bền bỉ qua hơn 300 năm mưa nắng.
GIÁ TRỊ KHO TÀNG CỔ VẬT VÀ NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC ĐÁ - GỖ
Bảo tồn nguyên vẹn đôi tượng ngựa đá, đôi tượng sấu đá, đại tự hoành phi Lạc Thọ Đình và câu đối cổ thời Lê - Nguyễn.
Đôi tượng ngựa đá và sấu đá thế kỷ XVIII - XIX
Trên sân miếu hiện lưu giữ đôi tượng ngựa đá cổ kích thước lớn (cao 0,95m, dài 1,10m) được tạc từ đá khối với dáng vẻ dũng mãnh, yên cương chạm trổ sắc sảo.
Hai bên bậc thềm đá dẫn lên miếu là đôi tượng sấu đá cổ thế kỷ XVIII - XIX trong tư thế ngồi canh gác thâm nghiêm, mang chiếc chuông đeo cổ và dáng hình tròn đầy đặc trưng nghệ thuật điêu khắc dân gian xưa.
Hệ thống hoành phi cổ 'Lạc Thọ Đình' và câu đối ngợi ca cảnh sắc phong thủy
Bức hoành phi gỗ thế kỷ XVIII mang ba chữ lớn 'Lạc Thọ Đình' cùng mảng gỗ khắc đại tự 'Thiên Hạ Hưu Tức' là những cổ vật vô giá tôn vinh lý tưởng sống thanh cao của Thám hoa.
Các bộ câu đối chữ Hán ca ngợi cảnh sắc non nước dòng Tùng Khê ('Tùng Khê thủy nhuận ngạn hoa quang') và truyền thống khoa bảng vẻ vang của vùng đất cổ Tây Mỗ - Đại Mỗ.
Bậc kỳ đồng khoa bảng, đỗ Thám hoa khoa Bính Thìn (1676), đảm nhiệm chức Tể tướng hơn 10 năm lừng danh đức độ.
Thần đồng quê hương Đại Mỗ, đỗ Thám hoa năm 1676
Nguyễn Quý Đức sinh ngày 13 tháng 12 năm Mậu Tý (1648) tại làng Đại Mỗ, từ thuở ấu thơ đã nổi tiếng thông minh mẫn tiệp, được triều đình và dân gian ca ngợi là kỳ đồng.
Năm 29 tuổi, ông đỗ Thám hoa khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ (1676), mở đầu cho truyền thống khoa bảng ba đời hiển đạt của gia tộc Nguyễn Quý ('Tam đại Tể tướng').
Vị Tể tướng vì nước vì dân, danh thơm 'Thiên hạ hữu tức'
Trong hơn 40 năm làm quan, ông kinh qua nhiều trọng trách then chốt như Đô ngự sử, Thượng thư bộ Binh, Thượng thư bộ Lại và giữ chức Tể tướng phụ chính triều đình hơn 10 năm.
Ông đề xuất nhiều chính sách an dân, khuyến nông giảm tô, duyệt định luật lệ, kiêm nhiệm Tổng tài biên soạn Quốc sử và thẩm định các văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Lòng nhân ái của ông được muôn dân ngợi ca: 'Tể tướng Quý Đức, thiên hạ hữu tức'.
PHU NHÂN CÔNG THỊ GIẢNG
Người bạn đời hiền đức của Thám hoa Nguyễn Quý Đức, cùng được phối thờ trang trọng nơi Chính điện.
Người bạn đời hiền thục, chu toàn hậu phương cho Tể tướng
Phu nhân Công Thị Giảng là người phụ nữ đức hạnh, nết na, xuất thân từ dòng dõi gia giáo. Bà luôn đồng hành, chia sẻ những thăng trầm cùng phu quân trong suốt những năm tháng làm quan.
Sự đảm đang, tần tảo của bà đã giúp Thám hoa Nguyễn Quý Đức yên tâm phụng sự giang sơn, đồng thời dưỡng dục con cháu tiếp bước con đường học vấn khoa cử thành tài.
Cỗ long ngai bài vị cổ phối thờ vĩnh hằng bên đức ông
Để ghi nhớ công đức vẹn toàn của phu nhân, dòng họ Nguyễn Quý và nhân dân đã tôn tạo cỗ long ngai bài vị sơn son thếp vàng chạm trổ rồng mây tinh xảo để phối thờ bà bên cạnh đức ông.
Nét điêu khắc lộng lẫy và ấm cúng trên bàn thờ thể hiện tình nghĩa vợ chồng son sắt, thủy chung và đạo lý gia phong mẫu mực của người Việt xưa.
ĐỊA THẾ GÒ ĐỐNG BIỆN, CỔNG MIẾU VÀ BẬC THỀM ĐÁ DẪN LỐI
Tọa lạc trên đỉnh gò đất cổ phong thủy Đống Biện, cổng vòm cổ kính mở ra lối đi lát gạch đỏ u tịch dưới tán cây cổ thụ.
Địa thế phong thủy tụ khí trên gò đất cổ Đống Biện
Miếu tọa lạc biệt lập trên đỉnh gò đất tự nhiên Đống Biện cao ráo, tạo nên vị thế phong thủy đắc địa nhìn xuống dòng sông Tùng Khê hiền hòa uốn khúc quanh làng.
Khuôn viên miếu được bao bọc bởi vườn cây cổ thụ xum xuê quanh năm, tạo nên không gian thanh tịnh, thoát tục đúng với ước nguyện dưỡng lão điền viên của Thám hoa Nguyễn Quý Đức.
Cổng miếu mái vòm cổ kính và đường dẫn lát gạch đỏ
Cổng vào di tích mang kiến trúc cuốn vòm truyền thống với mái ngói đao cong, phía trên đắp nổi ba chữ Hán 'Lạc Thọ Đình' (樂壽亭) trang trọng.
Qua cánh cổng là con đường dài lát gạch đỏ u tịch nép dưới bóng mát của những hàng cây xanh, dẫn bước du khách đến chân gò Đống Biện và hệ thống bậc thềm đá cổ kính.
MẶT BẰNG CHỮ QUỐC (國) VÀ BỘ KHUNG GỖ LIM KÊ TẢNG
Quy mô vuông vắn 8m x 8m kiểu chữ Quốc, 3 gian 4 mái lợp ngói mũi hài và bộ khung gỗ lim 6 cột kê chân tảng đá xanh.
Bố cục mặt bằng chữ Quốc (國) 3 gian 4 mái vuông vắn
Ngôi miếu được thiết kế mặt bằng hình vuông với kích thước chuẩn mực 8m x 8m (diện tích khoảng 64m²), tạo thành bố cục chữ Quốc (國) đăng đối, vững vàng.
Hệ mái lợp ngói mũi hài dày dặn với 4 mái xòe rộng, tạo cảm giác thanh thoát, nhẹ nhàng hòa quyện cùng thiên nhiên cây cỏ trên đỉnh gò đất cao.
Hệ khung vì kèo gỗ lim và bậc tam cấp đá tảng mài nhẵn
Nền miếu tôn cao 0,75m so với sân gò, dẫn lên bằng 4 bậc tam cấp đá tảng mài nhẵn phẳng phiu. Khung kết cấu gồm 6 cột cái và cột quân bằng gỗ lim già kê trên chân tảng đá xanh nguyên khối.
Kết cấu vì kèo kiểu giá chiêng chồng rường, câu đầu nóc nhà (thượng lương) khắc chữ Hán ghi nhận năm trùng tu tạo tác, các đường gờ chỉ chạy mộc mạc mà vô cùng tinh tế.
NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC GỖ VÀ HOA VĂN THỜI LÊ TRUNG HƯNG - NGUYỄN
Cốn nách chạm nghê kênh bong, cửa gỗ bức bàn chạm hổ phù và góc đao mái uốn cong chạm trổ hoa văn bay bổng.
Trên các mảng cốn nách và kẻ truyền trong đình, nghệ nhân xưa đã chạm nổi hình tượng con nghê, hoa lá vân xoắn với kỹ thuật đục kênh bong nhiều lớp vô cùng sống động.
Cánh cửa gỗ bức bàn chạm nổi mặt hổ phù uy nghiêm - linh thú trừ tà bảo vệ chốn thiêng liêng, mang đậm phong cách mỹ thuật điêu khắc gỗ dân gian thế kỷ XVIII.
Đao mái cong vút và đầu xà bẩy hiên chạm mây cuộn
Bốn góc đao mái vươn cong vút kiêu hãnh trên nền trời xanh, đắp nổi hoa văn mây cuộn lá lật mềm mại, tạo nên nét bay bổng đặc trưng của kiến trúc truyền thống xứ Đoài.
Phía dưới diềm mái, các đầu xà bẩy hiên bằng gỗ lim được trau chuốt đường nét mây cuộn tinh gọn, vừa chịu lực cho hiên miếu vừa tạo điểm nhấn thẩm mỹ trang nhã.
TƯ LIỆU HÌNH ẢNH
Bộ sưu tập hình ảnh kiến trúc di tích
Nhấp chọn ảnh để xem kích thước lớn kèm chú thích khảo sát chi tiết.
Bộ hiện vật thờ tự thiêng liêng nhất gồm cỗ long ngai bài vị Thám hoa Nguyễn Quý Đức và cỗ long ngai bài vị phu nhân Công Thị Giảng. Cỗ ngai của Thám hoa chạm trổ hình rồng chầu mặt nguyệt uy nghiêm, cỗ ngai phu nhân chạm phượng múa và hoa lá cách điệu thếp vàng lộng lẫy.
ĐẠI TỰ HOÀNH PHI CỔ LẠC THỌ ĐÌNH (樂壽亭)
Bức hoành phi gỗ cổ ngự tại không gian miếu mang ba chữ Hán lớn 'Lạc Thọ Đình' (樂壽亭), do chính Thám hoa Nguyễn Quý Đức đặt tên khi về trí sĩ dưỡng lão năm 1711. Ba chữ thể hiện ước vọng an vui, trường thọ ('Lạc Thọ') trong sự thanh nhàn của bậc tể tướng sau cả đời lo việc giang sơn xã tắc.
MẢNG GỖ KHẮC ĐẠI TỰ THIÊN HẠ HƯU TỨC (天下休息)
Mảng gỗ cổ khắc bốn chữ Hán đại tự 'Thiên Hạ Hưu Tức' (天下休息 - Muôn dân thiên hạ được nghỉ ngơi, an cư lạc nghiệp). Đây là lời tôn vinh đức độ của Tể tướng Nguyễn Quý Đức, nhắc nhớ câu phương ngôn lưu truyền: 'Tể tướng Quý Đức, thiên hạ hữu tức'.
BẢN CHÉP THI PHÚ NGỰ CHẾ CHÚA TRỊNH CƯƠNG VÀ NGUYỄN QUÝ ĐỨC NĂM 1719
Bức trướng chấn chỉ ghi chép toàn văn bài thơ thất ngôn bát cú và đôi câu đối xướng họa giữa Chúa An Đô Vương Trịnh Cương và Thám hoa Nguyễn Quý Đức nhân dịp chúa ngự giá ghé thăm Lạc Thọ Đình năm Kỷ Hợi (1719), thể hiện mối giao hòa hiếm có giữa đấng quân vương và bậc hiền tài.
ĐÔI TƯỢNG NGỰA ĐÁ CỔ THỜI LÊ TRUNG HƯNG - NGUYỄN
Đôi tượng ngựa đá kích thước lớn (cao 0,95m, dài 1,10m) tọa lạc trang nghiêm trên sân miếu. Tượng ngựa được tạc ở tư thế đứng chầu oai phong, các chi tiết bờm ngựa, yên bọc gấm, đai cương và yếm ngực chạm khắc hình hoa cúc dây sống động.
Hai bên bậc thềm đá dẫn lên đỉnh gò Đống Biện là đôi tượng sấu đá cổ uy nghi. Thân tượng có dáng ngồi phục chầu, cổ đeo chuông lục lạc, mang phong cách nghệ thuật linh vật đá dân gian thế kỷ XVIII bảo vệ chốn linh thiêng.
HỆ THỐNG CÂU ĐỐI CỔ CA NGỢI DANH NHÂN VÀ PHONG CẢNH SÔNG TÙNG KHÊ
Tập hợp các bức câu đối cổ quý giá treo trên các cột đình, nổi bật với đôi câu đối ca ngợi dòng sông Tùng Khê thơ mộng ('Tùng Khê thủy nhuận ngạn hoa quang / Tuyết Lĩnh xuân thâm kiều mộc cổ') và câu đối ngợi ca công danh thế tộc họ Nguyễn Quý ('Địa xuất Vương Hầu Tướng kế thế / Nhân truyền Văn vật nhất danh hương').
THƯỢNG LƯƠNG NÓC NHÀ KHẮC CHỮ HÁN GHI DẤU NIÊN ĐẠI
Thanh thượng lương (rường nóc) chạy dọc đỉnh mái miếu được khắc nổi các hàng chữ Hán ghi dấu niên đại khởi dựng và các lần trùng tu lớn của Lạc Thọ Đình, lưu giữ cứ liệu lịch sử - kiến trúc xác thực của công trình qua hàng trăm năm.
Khám phá thêm tư liệu và mô phỏng hiện vật
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
TƯ LIỆU HIỆN VẬT
ĐÔI LONG NGAI BÀI VỊ THỜ THÁM HOA VÀ PHU NHÂN
Bộ hiện vật thờ tự thiêng liêng nhất gồm cỗ long ngai bài vị Thám hoa Nguyễn Quý Đức và cỗ long ngai bài vị phu nhân Công Thị Giảng. Cỗ ngai của Thám hoa chạm trổ hình rồng chầu mặt nguyệt uy nghiêm, cỗ ngai phu nhân chạm phượng múa và hoa lá cách điệu thếp vàng lộng lẫy.
Hằng năm, con cháu dòng họ Nguyễn Quý cùng chính quyền và nhân dân địa phương tề tựu trang trọng tại Miếu Lạc Thọ Đình để tổ chức lễ giỗ Thám hoa Nguyễn Quý Đức vào ngày 14 tháng 5 âm lịch, kết hợp các hoạt động giáo dục truyền thống hiếu học cho thế hệ trẻ.
Ngày 14 tháng 5 âm lịch: Ngày Lễ giỗ chính Thám hoa Nguyễn Quý Đức với nghi thức dâng hương, đại tế trang nghiêm theo nghi thức cổ truyền dòng họ.
Lễ báo công khuyến học: Con cháu trong họ và học sinh, sinh viên đạt thành tích xuất sắc trong học tập dâng hương tưởng nhớ tổ tiên và nhận thưởng khuyến tài.
Tọa đàm ôn lại thân thế sự nghiệp: Ôn lại cuộc đời phụng sự liêm khiết 'Thiên hạ hữu tức' của bậc danh nhân tiền bối nhằm gìn giữ mạch nguồn văn hóa quê hương.
Các tuần tiết sóc vọng: Mở cửa đón nhân dân và du khách thập phương chiêm bái, dâng hương vào ngày mùng Một và ngày Rằm hằng tháng.
SỰ KIỆN LỊCH SỬ ĐẶC BIỆT: Chúa An Đô Vương Trịnh Cương đã thân hành ngự giá ghé thăm Lạc Thọ Đình vào năm 1719 và cùng Thám hoa Nguyễn Quý Đức làm thơ xướng họa ngợi ca cảnh thái bình.
MẶT BẰNG CHỮ QUỐC HIẾM CÓ: Miếu có mặt bằng hình vuông 8m x 8m kiểu chữ Quốc (國) độc đáo với 3 gian 4 mái tọa lạc sừng sững trên đỉnh gò đất tự nhiên Đống Biện.
DANH THƠM 'THIÊN HẠ HỮU TỨC': Thám hoa Nguyễn Quý Đức là vị Tể tướng nổi tiếng thanh liêm, được dân chúng truyền tụng phương ngôn: 'Tể tướng Quý Đức, thiên hạ hữu tức' (nghĩa là Tể tướng trị vì khiến muôn dân được an hưởng yên bình).
KHO TÀNG CỔ VẬT ĐÁ QUÝ GIÁ: Miếu hiện bảo tồn nguyên vẹn đôi tượng ngựa đá tạc yên cương tinh xảo và đôi tượng sấu đá ngồi canh gác bậc thềm từ thế kỷ XVIII - XIX.
THƯ VIỆN SỐ VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN
Nhằm tôn vinh và bảo tồn bền vững Di tích Lịch sử cấp Quốc gia Miếu Lạc Thọ Đình, UBND phường Tây Mỗ phối hợp cùng Tiểu ban Quản lý di tích và dòng họ Nguyễn Quý triển khai số hóa toàn văn các thi phẩm xướng họa năm 1719, văn bia năm 1827 và dựng mô hình 3D cho các hiện vật đá, gỗ cổ. Công tác tu bổ định kỳ khung gỗ lim, cửa chạm hổ phù và tôn tạo cảnh quan xanh trên gò Đống Biện luôn được chú trọng hàng đầu.
THÔNG TIN THAM QUAN
Địa điểm & Thời gian
Địa chỉ: Gò Đống Biện, Tổ dân phố Phú Thứ, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội
Thời gian lễ hội: Mở cửa đón khách tham quan và dâng hương vào ngày mùng Một, ngày Rằm hằng tháng và dịp Lễ giỗ chính (ngày 14 tháng 5 âm lịch)
Hướng dẫn tham quan
Trang phục lịch sự, kín đáo, giữ thái độ tôn nghiêm khi vào khuôn viên di tích.
Không tự ý chạm, leo trèo hoặc làm xê dịch tượng đá, văn bia và các cổ vật trong miếu.
Giữ gìn vệ sinh môi trường, cẩn trọng phòng chống cháy nổ khi dâng lễ và thắp hương.
Tuân thủ hướng dẫn của Tiểu ban Quản lý di tích và Ban khánh tiết dòng họ.
Khám phá số & Quản lý
Quét mã QR tại cổng di tích để tìm hiểu thêm về thân thế sự nghiệp Thám hoa Nguyễn Quý Đức.
Đơn vị quản lý: UBND phường Tây Mỗ - Tiểu ban Quản lý Di tích và Ban tộc họ Nguyễn Quý